Khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bả
Phần mềm kế toán Simba cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang chủ

Giới thiệu

Dịch vụ

Khách hàng

Liên hệ

Tin tức

Tư vấn mua hàng

 

Tp.HCM
  
 
 
 
 

 

Đà Nẵng
 
 

 

Hà Nội
 
 
   
   
  

 

Tư vấn sử dụng 

 
 
 
 

 

Hotline

Tp. HCM:  0987 054 910
Hà Nội:     0936 348 626
Đà Nẵng: 0935 072 299

 

Số lượt truy cập
6226738
Kiến thức

Khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bả

19/10/2010

Khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bả

1. Khái niệm tổ chức kinh doanh

Một doanh nghiệp hay một đơn vị được coi là tổ chức kinh doanh khi nó là những tổ chức độc lập với chủ sở hữu và với các doanh nghiệp khác. Nó được coi là đơn vị độc lập vì kế toán phải lập báo cáo tài chính theo định kỳ của từng đơn vị riêng biệt, nếu báo cáo tài chính phản ánh tài sản hoạt động của một đơn vị khác hay tài sản hoạt động cá nhân của chủ sở hữu sẽ làm lệch đi tình trạng tài chính của đơn vị đó.

2. Khái niệm kinh doanh liên tục

Kinh doanh liên tục là kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp không ngưng hoạt động trong tương lai gần. Khi doanh nghiệp sử dụng tài sản vào quá trình sản xuất kinh doanh thì giá của tài sản ở thị trường có thể thay đổi theo thời gian nhưng số liệu ghi chép của những tài sản này không được điều chỉnh để phản ánh theo giá thị trường trừ khi có chứng cớ mạnh mẽ cho sự thay đổi giá này. Không phản ánh sự thay đổi giá theo thị trường của tài sản vì doanh nghiệp kinh doanh liên tục và sự tăng giảm giá diễn ra thường xuyên nên không thể điều chỉnh sự tăng giảm này được nhưng trong trường hợp doanh nghiệp ngưng sản xuất để giải thể, để bán thì giá tài sản phải được phản ánh theo giá thị trường là hợp lý.

3. Khái niệm đồng bạc cố định

Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh được phản ánh theo đơn vị tiền tệ thì đơn vị tiền tệ có thể thay đổi theo mức giá chung của xã hội, do vậy để có thể so sánh được, phân tích được hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ này với những kỳ khác, thì phải sử dụng đồng bạc cố định. Ví dụ một tài sản của doanh nghiệp mua vào những năm trước với giá 200trđ, và bây giờ bán tài sản này với giá 400 trđ, nếu trong khoảng thời gian từ khi mua đến khi bán sức mua của tiền tệ giảm còn một nửa thì coi như doanh nghiệp chẳng lợi lộc gì trong việc mua bán này vì 400trđ, hiện nay không mua được gì hơn 200trđ trước đây cả. Tuy nhiên sử dụng đồng bạc để đánh giá cả hai quá trình kinh doanh trên thì kế toán viên phải điều chỉnh theo các mức giá cả hai quá trình kinh doanh trên thì kế toán viên báo cáo đã thu được 200trđ lãi, nhưng thực tế có lãi vậy không? Muốn tính được thì kế toán viên phải điều chỉnh theo các mức giá thay đổi nhưng thay vì điều chỉnh thì kế toán viên sử dụng khái niệm đồng bạc cố định, nghĩa là khi báo cáo giả sử giá trị đồng không đổi.

4. Khái niệm về kỳ thời gian

Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kéo dài qua nhiều năm, nhưng các nhà quản lý, các nhà đầu tư, cơ quan tài chánh… yêu cầu doanh nghiệp cung cấp cho họ những báo cáo tài chính theo định kỳ, do vậy kế toán phải chia thời gian hoạt động theo từng kỳ nhất định như tháng quí, năm. Như vậy việc lập các báo cáo tài chính theo kỳ thời gian nhất định còn gọi đó là kỳ kế toán. Các doanh nghiệp thường chọn kỳ kế toán là một năm, tuy nhiên cũng có những doanh nghiệp cũng chọn kỳ kế toán tạm thời một tháng hay một quý để lập báo cáo tài chính, kỳ kế toán một năm là 12 tháng liên tục, kỳ 12 tháng mà doanh nghiệp chọn làm kỳ kế toán năm được gọi là năm tài chính. Khởi điểm của kỳ kế toán là đấu tháng bất cứ đầu tháng nào, tuỳ vào doanh nghiệp có thể là 1/1,1/2,1/3,1/4… nhưng nên chọn kỳ kế toán như thế nào để kết thúc với mức tồn kho thấp nhất và mức hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ nhất.

5. Nguyên tắc kế toán

Là những tuyên bố chung như là những chuẩn mực và sự hướng dẫn để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng tin cậy, dễ so sánh của các thông tin kế toán.
Những nguyên tắc này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của những người làm công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng được thừa nhận có tính pháp lệnh và được triển khai áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước cho tất cả các đơn vị kinh tế.


a.    Nguyên tắc thực thể kế toán: Là một đơn vị kinh doanh, nó kiểm soát nguồn vốn và tham gia vào các hoạt động kinh tế, tồn tại riêng biệt và độc lập trong một doanh nghiệp cũng như đối với các doanh nghiệp khác. Tóm lại, đơn vị nào có vốn hoạt động và vốn đó được kiểm soát, được trao đổi, được tóm lược và được báo cáo - đó là một thực thể kế toán.
b.    Nguyên tắc thước đo bằng đồng tiền: Sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất trong quá trình tính toán và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong giả định rằng các biến động về sức mua của đồng tiền không đủ gây ảnh hưởng (không đổi). Khi lập báo cáo tài chính, người lập phải chú ý đến nhân tố này vì trên thực tế nhiều năm qua sức mua của đồng tiền có giảm sút, thông tin kế toán phải được điều chỉnh theo sự lạm phát của đồng tiền.
c.    Nguyên tắc trị giá: Khi mua tài sản, hàng hoá, dịch vụ… đều ghi chép theo chi phí là số tiền đã bỏ ra để nhận được tài sản, hàng hoá, dịch vụ … Giá mua được phản ánh theo chi phí thực tế, “giá trị thị trường hợp lý “ nhưng với thời gian trôi qua “giá trị thị trường hợp lý “ có thể bị thay đổi so với giá gốc của chúng, vì vậy khuynh hướng hiện nay sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường khi có sự biến động.
d.    Nguyên tắc ghi nhận doanh thu được hưởng: Doanh thu chỉ được ghi nhận khi doanh nghiệp đã hoàn thành trách nhiệm cung cấp sản phẩm hàng hoá (mất quyền sở hữu về sản phẩm hàng hoá) và được khách hàng thanh toán (nhận được quyền sở hữu về tiền) hoặc chấp nhận thanh toán.
e.    Nguyên tắc tương xứng giữa doanh thu và chi phí: Trong kỳ kế toán, doanh thu được hưởng phát sinh trên cơ sở những chi phí nào thì tổng cộng các chi phí đó mới được coi là chi phí dù cho chi phí ấy có xảy ra ở thời điểm nào và được trừ ra khỏi doanh thu được hưởng khi xác định kết quả kinh doanh.
f.    Nguyên tắc thực tế khách quan: Nguyên tắc này đòi hỏi việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các chứng từ sổ sách phải khách quan theo đúng sự việc thực tế diễn ra và có thể kiểm chứng lại được.
g.    Nguyên tắc công khai: Tất cả các hoạt động kinh tế diễn ra trong kỳ kế toán phải được phản ánh đầy đủ trong báo cáo kế toán và phải có giải trình, công bố công khai theo quy định của nhà nước. Sự công khai như vậy sẽ làm cho các báo cáo tài chính có ích lợi hơn và giảm bớt các vấn đề bị hiểu sai. Việc công khai không đòi hỏi những thông tin đưa ra thật đầy đủ chi tiết mà những thông tin ấy không được dấu các sự kiện quan trọng.
h.    Nguyên tắc nhất quán (kiên định): Áp dụng phương pháp kế toán nào thì phải thống nhất qua các năm để người đọc không bị nhầm lẫn và so sánh được. Tuy nhiên nếu có sự thay đổI về phương pháp đã chọn là hợp lý và cần thiết thì nên thay đổi nhưng phải thuyết minh cho ngườI đọc biết có sự thay đổi đó.
j.    Nguyên tắc thận trọng: Chọn giải pháp ít ảnh hưởng đến vốn nhất (có lợi cho tài sản của doanh nghiệp nhất), nguyên tắc ấy là “ thừa nhận tất cả các khoản lỗ nhưng không hưởng trước một khoản lãi nào”.
Ghi doanh thu, tăng vốn chủ sở hữu khi có bằng chứng chắc chắn nhất.
Ghi chi phí, giảm vốn chủ sở hữu khi có dấu hiệu hoặc những bằng chứng chưa chắc chắn.


Sưu tầm



Tin khác:_____________________________
Simba Accounting
Hướng dẫn cài đặt Fonts
Download sách HDSD
Video HDSD
Video Simba Invoice
Download tài liệu
Phiếu đặt mua
Phiếu đăng ký đào tạo
Mẫu hợp đồng
Hướng dẫn tải phần mềm
Hướng dẫn cài đặt
Gỡ bỏ phần mềm
Cam kết
Chính sách bảo mật
Điều khoản sử dụng
Phần mềm hỗ trợ
Tin tức SIMBA
Khuyến mại mừng sinh nhật lần thứ 13 của AsiaSoft
HTKK 3.2.5
Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn mới về thuế TNDN
Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Chương trình tặng quà nhân dịp sinh nhật lần thứ 12 CN HCM
Quảng cáo
Phần mềm kế toán tốt nhất Việt Nam Phần mềm kế toán Asia Professional Download miễn phí phần mềm kế toán SIMBA Phan mem ke toan

Phần mềm erp

hoc ke toan